Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới
1. Quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo
Điều 2 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định: “trợ giúp pháp lý cho người nghèo là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí trong vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật trợ giúp pháp lý, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật”. Quy định này thể hiện bản chất trợ giúp pháp lý cho người nghèo, cụ thể:
Thứ nhất, trợ giúp pháp lý cho người nghèo là dịch vụ pháp lý miễn phí.
Người nghèo được thụ hưởng dịch vụ trợ giúp pháp lý mà không phải trả bất kỳ khoản phí, lợi ích vật chất hoặc lợi ích nào. Quy định này phản ánh bản chất nhân đạo và chính sách xã hội của Nhà nước, bảo đảm người nghèo không bị tước bỏ quyền được bảo vệ pháp luật vì lý do kinh tế. Nguồn tài chính cho hoạt động trợ giúp pháp lý gồm nguồn ngân sách nhà nước; các nguồn đóng góp, tài trợ của tổ chức, cá nhân trong nước, ngoài nước và các nguồn hợp pháp khác. Kinh phí ngân sách nhà nước được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước hằng năm của cơ quan thực hiện quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý. Đối với địa phương chưa tự cân đối được ngân sách, được ưu tiên bố trí ngân sách bổ sung từ việc cân đối ngân sách hằng năm để hỗ trợ việc thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý phức tạp, điển hình.
Thứ hai, trợ giúp pháp lý cho người nghèo được thực hiện trong khuôn khổ các vụ việc theo quy định của pháp luật trợ giúp pháp lý.
Phạm vi thực hiện trợ giúp pháp lý rất rộng, gồm hầu hết các lĩnh vực pháp luật (dân sự, hình sự, hành chính, lao động, hôn nhân và gia đình...), trừ lĩnh vực kinh doanh, thương mại. Các hình thức trợ giúp pháp lý gồm: tham gia tố tụng; tư vấn pháp luật; đại diện ngoài tố tụng.
Thứ ba, trợ giúp pháp lý cho người nghèo là công cụ pháp lý góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật.
Trong hệ thống quyền con người, quyền được trợ giúp pháp lý hay quyền tiếp cận trợ giúp pháp lý là một quyền cơ bản, là cấu phần quan trọng của quyền tiếp cận công lý và nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật. Hoạt động trợ giúp pháp lý không chỉ giải quyết vụ việc cụ thể, mà còn có ý nghĩa thiết lập sự cân bằng về năng lực pháp lý giữa người nghèo và các bên liên quan, qua đó, khẳng định vai trò của Nhà nước trong việc bảo vệ công bằng xã hội.
2. Quyền và nghĩa vụ của người được trợ giúp pháp lý
Việc xác định rõ quyền và nghĩa vụ là nền tảng để bảo đảm tính hiệu quả và minh bạch của hoạt động trợ giúp pháp lý. Các quyền của người nghèo được trợ giúp pháp lý gồm: (i) được trợ giúp pháp lý mà không phải trả chi phí, lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác; (ii) tự mình hoặc thông qua người thân thích, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác yêu cầu trợ giúp pháp lý; (iii) được thông tin về quyền được trợ giúp pháp lý, trình tự, thủ tục trợ giúp pháp lý khi đến tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và các cơ quan nhà nước có liên quan; yêu cầu giữ bí mật về nội dung vụ việc trợ giúp pháp lý; (iv) lựa chọn một tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và người thực hiện trợ giúp pháp lý tại địa phương trong danh sách được công bố; (v) yêu cầu thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý khi người đó thuộc trường hợp không được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật; (vi) thay đổi, rút yêu cầu trợ giúp pháp lý; (vii) được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật; khiếu nại, tố cáo về trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Bên cạnh việc được hưởng các quyền trong trợ giúp pháp lý, người nghèo phải thực hiện các nghĩa vụ trong trợ giúp pháp lý gồm: (i) cung cấp giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý; (ii) hợp tác, cung cấp kịp thời, đầy đủ thông tin, tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý và chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin, tài liệu, chứng cứ đó; (iii) tôn trọng tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý; (iv) không yêu cầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý khác trợ giúp pháp lý cho mình về cùng một vụ việc đang được một tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý thụ lý, giải quyết; (v) chấp hành pháp luật về trợ giúp pháp lý và nội quy nơi thực hiện trợ giúp pháp lý.
3. Nội dung trợ giúp pháp lý cho người nghèo
Trợ giúp pháp lý là chính sách xã hội quan trọng hướng tới bảo đảm quyền tiếp cận công lý của mọi công dân, đặc biệt là những người yếu thế, người nghèo - nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trong đời sống xã hội. Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã tạo nền tảng pháp lý cơ bản đầy đủ và toàn diện cho việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí, góp phần thực hiện mục tiêu công bằng xã hội và bảo vệ quyền con người. Trong đó, quy định về nội dung trợ giúp pháp lý giữ vai trò trung tâm, quyết định chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đối với người nghèo.
Điều 31 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định 03 nhóm nội dung cơ bản của hoạt động trợ giúp pháp lý: tham gia tố tụng; đại diện ngoài tố tụng và tư vấn pháp luật.
Thứ nhất, tham gia tố tụng.
Tham gia tố tụng là hình thức trợ giúp pháp lý có tính phức tạp và chuyên sâu nhất. Người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa (trong vụ án hình sự) hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp (trong các vụ án dân sự, hành chính, hôn nhân và gia đình…). Nội dung trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng gồm: nghiên cứu hồ sơ vụ án; thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ; tham gia hỏi cung, đối chất; tham gia tranh tụng tại phiên tòa; đề xuất cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp bảo vệ quyền lợi của người được trợ giúp pháp lý; kiến nghị khắc phục các vi phạm tố tụng nếu có. Việc tham gia tố tụng của người thực hiện trợ giúp pháp lý bảo đảm khách quan, công bằng trong quá trình giải quyết vụ án, hạn chế nguy cơ oan sai hoặc thiệt hại xảy ra cho người nghèo - nhóm đối tượng thường gặp hạn chế về hiểu biết pháp luật và khả năng tự bảo vệ trong môi trường pháp lý phức tạp.
Thứ hai, tư vấn pháp luật.
Tư vấn pháp luật là hoạt động trợ giúp pháp lý phổ biến nhất, có tác động sâu, rộng và trực tiếp đến khả năng tiếp cận pháp luật của người nghèo. Nội dung tư vấn pháp luật gồm: hướng dẫn, đưa ra ý kiến, giúp soạn thảo văn bản liên quan đến tranh chấp, khiếu nại, vướng mắc pháp luật; hướng dẫn giúp các bên hòa giải, thương lượng, thống nhất hướng giải quyết vụ việc. Hoạt động tư vấn pháp luật không chỉ giúp người nghèo nhận thức rõ quyền và nghĩa vụ của mình, mà còn góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, hạn chế tranh chấp và nâng cao nhận thức pháp lý cộng đồng. Đây là hình thức trợ giúp pháp lý có chi phí thấp nhưng hiệu quả cao, đặc biệt phù hợp trong bối cảnh chuyển đổi số khi các hình thức tư vấn trực tuyến, tư vấn qua mạng xã hội và tổng đài ngày càng phổ biến.
Thứ ba, đại diện ngoài tố tụng.
Đại diện ngoài tố tụng là nội dung trợ giúp pháp lý có ý nghĩa quan trọng trong việc hỗ trợ người nghèo giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, yêu cầu pháp lý phát sinh ngoài phạm vi tố tụng. Theo Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, tổ chức và người thực hiện trợ giúp pháp lý có thể đại diện cho người nghèo được trợ giúp pháp lý thực hiện quyền và nghĩa vụ trong quan hệ pháp luật trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các bên có liên quan. Hoạt động này gồm: tham gia đàm phán, hòa giải; thực hiện các giao dịch liên quan đến bảo vệ quyền lợi; đại diện nộp đơn yêu cầu hoặc khiếu nại; làm việc trực tiếp với các đơn vị, cơ quan nhằm giải quyết quyền lợi cho người được trợ giúp pháp lý. Hình thức này đặc biệt hữu ích với người nghèo khi họ không có khả năng tham gia các thủ tục hành chính phức tạp hoặc đối mặt với các tranh chấp pháp lý không đủ kiến thức để tự bảo vệ.
Việc quy định rõ nội dung trợ giúp pháp lý trong Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 có ý nghĩa quan trọng trên nhiều phương diện: (i) bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người nghèo, phù hợp với chuẩn mực quốc tế về quyền con người; (ii) tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho các tổ chức và cá nhân thực hiện trợ giúp pháp lý; (iii) nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý công, bảo đảm tính minh bạch, hiệu quả và chuyên nghiệp; (iv) hỗ trợ quản lý nhà nước, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số và cải cách thủ tục hành chính; (v) tăng cường niềm tin của người dân vào cơ quan công quyền thông qua việc được bảo vệ quyền lợi kịp thời, đúng pháp luật.