Quân đội nhân dân Việt Nam - 70 năm truyền thông vẻ vang
Cách đây vừa tròn 70 năm, ngày 22/12/1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (VNTTGPQ) - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) được thành lập theo chỉ thị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh. Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, vào các ngày 25, 26/12/1944 chỉ với 34 chiến sỹ, với trang bị vũ khí thô sơ đã bất ngờ tập kích vào các đồn Phai Khắt, Nà Ngần. Cuộc tập kích thắng lợi. Ta đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ sỹ quan, binh lính trong đồn, thu nhiều vũ khí đạn dược, quân trang, quân dụng sau đó rút về căn cứ an toàn. Những chiến công đó đã “Cổ vũ tinh thần đấu tranh cách mạng của cả dân tộc đang bị nô lệ, đang sục sôi ý chí vùng lên” và đã mở ra truyền thống “Quyết chiến, quyết thắng” của Quân đội ta. Mùa Thu năm 1945, Việt Nam giải phóng quân đã cùng với toàn Đảng, toàn dân ta làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, giành độc lập dân tộc, tạo tiền đề cho sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa- Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.
Cách mạng Tháng Tám thành công, nước nhà đã được độc lập, Việt Nam giải phóng quân được đổi tên thành Vệ quốc quân, rồi Quân đội quốc gia Việt Nam (năm 1946) và đến năm 1950 thì chính thức mang tên gọi Quân đội nhân dân Việt Nam cho tới hôm nay. Dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân, Quân đội ta vừa chiến đấu, vừa xây dựng, trưởng thành và phát triển; đã đi từ nhỏ đến lớn, càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng lớn; đã làm nên những chiến công vang dội, góp phần đưa cánh mạng nước ta từng bước trưởng thành và đi đến thắng lợi cuối cùng.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Quân đội ta đã trưởng thành nhanh chóng cả về trình độ chiến, kỹ thuật, kinh nghiệm tác chiến; về trang bị vũ khí, khí tài kỹ thuật và khả năng khai thác, sử dụng vũ khí, khí tài kỹ thuật; về xây dựng, phát triển lực lượng, ở giai đoạn này ta đã thành lập được các trung đoàn, đại đoàn quân chủ lực và đã tổ chức nhiều chiến dịch với quy mô ngày càng lớn: Đó là các chiến dịch Biên Giới (1950), Hòa Bình (1951-1952), Tây Bắc (1952)) và đặc biệt là cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953-1954, giành thắng lợi quyết định trong Chiến dịch lịch sử Điện Biên phủ (từ 6/12/1953-7/5/1954) buộc địch phải ký Hiệp định Giơnevơ về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, lập lại hòa bình ở Đông Dương, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp, tạo cơ sơ vững chắc để quân và dân ta tiến hành cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ ở miền Nam.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quân đội ta đã nhanh chóng xây dựng, củng cố, kiện toàn về tổ chức lực lượng với đầy đủ các quân chủng, binh chủng gồm Hải quân, Lục quân, Phòng không và Không quân với vũ khí trang bị, phương tiện kỹ thuật ngày càng tiên tiến, hiện đại. Đặc biệt, vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh đã thành lập được các quân đoàn chủ lực cơ động mạnh để có thể mở những chiến dịch với quy mô lớn trên tất cả các mặt trận, các chiến trường với trình độ, khả năng chỉ huy, chỉ đạo tác chiến cấp chiến dịch, chiến lược với sự tham gia, phối hợp của tất cả các quân, binh chủng, các chiến trường.
Ở miến Bắc, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu đánh trả không quân, hải quân Mỹ và đã giành thắng lợi to lớn trong 2 cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, giai đoạn 1964-1968 (lần 1) và lần 2 được mang tên các chiến dịch Lainơ Bếchcơ 1 (4/1972) và Lainơ Bếchcơ 2, đã làm nên trận thắng “Điện Biên Phủ trên không” (12/1972), buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27/1/1973.
Ở miền Nam, từ phong trào nổi dậy giành chính quyền ở huyện Trà Bồng, Quảng Ngãi (8/1959) và phong trào Đồng khởi ở Bến Tre (1/1960) đã lan rộng đến các tỉnh Nam Bộ, Khu 5; đối với lực lượng vũ trang, ta đã từng bước xây dựng, củng cố lực lượng và dần hình thành hệ thống chỉ huy quân sự ở các cấp. Ngày 20/12/1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời; tiếp đó, ngày 15/2/1961, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Quân Giải phóng miền Nam, một bộ phận của QĐNDVN trực tiếp thực hiện nhiệm vụ chiến đấu ở chiến trường miền Nam. Được sự giúp đỡ, đùm bọc của nhân dân, Quân đội ta vừa chiến đấu, vừa xây dựng và phát triển, đã đi từ nhỏ đến lớn, càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng lớn. Có thể kể tên các trận thắng Ấp Bắc (1/1963), Bình Giã (1963-1964), Ba Gia, Đồng Xoài, Plâyme (1965), Gian Xơnxiti (1967) và các chiến dịch Mùa Xuân năm Mậu Thân (1968), Đường 9 - Khe Sanh (1968), Đường 9 - Nam Lào (1971), Trị Thiên (1972). . . , đi đến kết thúc hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975 với các chiến dịch Tây Nguyên, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng (3/1975), Xuân Lộc (4/1975) và đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (từ 26-30/4/1975), đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Thắng lợi trên cho thấy sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng ta trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đã phát triển đến đỉnh cao, nhất là nghệ thuật chiến dịch, chiến lược và sự chỉ đạo, phối hợp giữa các mặt trận, các chiến trường.
Miền Nam đã hoàn toàn giải phóng. Đất nước vừa im tiếng súng thì từ các hướng biên giới phía Bắc, biên giới Tây Nam kẻ thù mới lại phát động các cuộc chiến tranh không tuyên bố, nổ súng vượt biên giới tấn công xâm lược, tàn sát giết hại đồng bào, phá hoại kinh tế, phá hoại cơ sở hạ tầng. . . Và, một lần nữa Quân đội lại cùng toàn Đảng, toàn dân ta đánh bại các cuộc chiến tranh biên giới và cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt của kẻ thù; đồng thời hoàn thành nhiệm vụ quốc tế cao cả đối với nhân dân nước bạn Campuchia.
Chiến tranh kết thúc, cả nước tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Quân đội ta bước vào giai đoạn xây dựng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại để làm tròn sứ mệnh là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ chế độ XHCN; đấu tranh làm thất bại âm mưu “Diễn biến hòa bình” và thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Ngoài nhiệm vụ huấn luyện, chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, Quân đội nhân dân Việt Nam còn là một đội quân công tác, tích cực tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế; tham gia cứu hộ, cứu nạn, phòng chống thiên tai, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân và tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; tham gia xây dựng, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở góp phần xây dụng “thế trận lòng dân”, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, với Nhà nước và chế độ.
Nhìn lại 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, kể cả khi chiến tranh cũng như lúc hòa bình, các thế hệ cán bộ, chiến sỹ quân đội nhân dân Việt Nam vẫn luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và CNXH, đã cùng nhân dân cả nước làm nên những chiến thắng huy hoàng, xứng đáng là lực lượng bạo lực sắc bén, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Nhà nước và nhân dân, làm nòng cốt trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đã làm nên bản chất, truyền thống tốt đẹp “Tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”; làm sáng ngời hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, xứng danh là Quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng.